Suy niệm về ngày Sabbath - Gửi đến những người đã rời khỏi WMSCOG

 1. Anh/chị muốn trở thành người vô thần hay bất khả tri?

Những người không tin vào Đức Chúa Trời thường được gọi là người vô thần (atheist) hoặc người bất khả tri (agnostic).

Người vô thần là những người, sau nhiều thời gian và nỗ lực thí nghiệm hoặc nghiên cứu, đi đến kết luận rằng Đức Chúa Trời không tồn tại.

Người bất khả tri thì khác hơn một chút , họ nói rằng họ không biết chắc. Họ cho rằng làm sao con người có thể biết chắc Đức Chúa Trời có thật hay không. Người bất khả tri thường nghĩ rằng “chân lý nếu có đi nữa thì con người cũng không thể đạt tới được.”

Vì thế, họ tránh xa các cuộc tranh luận về chân lý. Họ nói rằng họ chẳng muốn tìm hiểu thêm. Dù bạn có cố thuyết phục họ rằng Kinh Thánh chứa đựng chân lý đi nữa, họ cũng chẳng buồn dành thời gian lắng nghe.

2. Chủ nghĩa bất khả tri có thật sự “khoa học” không?

Những người phủ nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời hoặc thờ ơ với Ngài thì phần lớn lại tôn sùng khoa học.

Họ tin chắc rằng vũ trụ và mọi sự vật đều có thể được giải thích bằng các định luật vật lý và phương trình toán học.

Dĩ nhiên, có vài người thật sự có trình độ khoa học cao và sau khi nghiên cứu sâu thì kết luận rằng không có Đức Chúa Trời.

Nhưng đa phần, họ không hề hiểu rõ về khoa học chỉ mượn danh khoa học để biện hộ cho sự không tin của mình.

Thử nhìn quanh bạn, chắc hẳn có ai đó từng nói:

“Làm sao có thể tin vào Đức Chúa Trời bằng lập luận khoa học được chứ?”

Nhưng người đó thật sự hiểu bao nhiêu về khoa học?

Nếu đó là một nhà khoa học vĩ đại, ta còn có thể phần nào hiểu được.

Thế nhưng đa phần, họ chỉ nói bằng miệng, mà không có chút hiểu biết sâu sắc nào.

Sự thật là bằng khoa học, chúng ta khó chứng minh rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, nhưng ngược lại, cũng không thể chứng minh rằng Ngài không hiện hữu.

3. Có phải bạn đang dùng chủ nghĩa bất khả tri để lờ đi tiếng nói lương tâm hướng về Đức Chúa Trời?

Nhiều người trong số các anh/chị đã từng theo Hội Kim Joe Choel và Zahng Gil Ja, rồi nhận ra những mâu thuẫn trong giáo lý và rời đi.

Khi đó, hầu hết không lập tức trở thành người vô thần, mà thường trở thành người bất khả tri.

Sau khi bị lừa dối bởi giáo lý sai lạc, họ nghĩ rằng:

“Vậy thì có thật Đức Chúa Trời tồn tại không?”

“Có lẽ con người chẳng bao giờ hiểu nổi Đức Chúa Trời đâu.”

Và rồi họ bảo: “Thôi khỏi suy nghĩ chi cho mệt, cứ sống thoải mái đi.”

Người bất khả tri thường nói rằng họ thấy tâm hồn nhẹ nhõm và được an ủi. Họ suy nghĩ là sống mà không cần bận tâm đến đúng hay sai thì nhẹ nhàng hơn, không phải chịu căng thẳng vì những câu hỏi đạo đức hay niềm tin.

Rồi họ tự an ủi mình rằng:

“Sabbath hay Lễ Vượt Qua (Passover) có ích gì đâu?”

“Thôi rời khỏi hội thánh cũng chẳng sao.”

Thật ra, chủ nghĩa bất khả tri không hẳn là phủ nhận hoàn toàn Đức Chúa Trời, chỉ là “tôi không biết chắc”.

Vì thế, họ không cảm thấy cắn rứt lương tâm hay ý thức về tội lỗi, và dần dần bằng lòng với cuộc sống tạm yên ổn đó. Nhưng rồi, sự bất khả tri ấy dần trượt sang vô thần, vì lương tâm không thể mãi ở giữa đường được.

4. Đây là hiện tượng phổ biến trong lịch sử nhân loại

Trải nghiệm đó không chỉ là của riêng anh/chị.

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử Cơ Đốc giáo, điều này đã xảy ra vô số lần.

Hôm nay, tôi muốn kể lại câu chuyện của một nhà khoa học đã từng trải qua chính điều ấy.

5. Câu chuyện về Francis Collins

Có một nhà khoa học tên là Francis Collins.

Ông sinh năm 1954 tại Hoa Kỳ, hiện vẫn còn sống. Francis Collins là người đứng đầu Dự án Giải mã Gen người (Human Genome Project) một trong những công trình vĩ đại nhất của khoa học hiện đại.

Ông từng học Khoa học sự sống tại Đại học Yale, và tiếp tục nghiên cứu Di truyền học tại Đại học Michigan. Ông cũng là một bác sĩ, nổi tiếng với các nghiên cứu về các bệnh nan y do đột biến gen.

Ban đầu, Collins học hóa học nên rất giỏi toán và vật lý, và dĩ nhiên ông là một người vô thần nhiệt thành.

Nhưng đến một ngày, khi học thêm về sinh hóa, ông bắt đầu thấy được sự kỳ diệu của DNA và RNA, những mã di truyền hoạt động như một ngôn ngữ kỹ thuật số hoàn hảo, được lập trình một cách tinh tế và khôn ngoan.

Chứng kiến điều đó, ông chuyển hướng sang y học, và quyết định trở thành bác sĩ.

6. Bước ngoặt đức tin của Francis Collins

Khi nghiên cứu sâu hơn, Collins kinh ngạc nhận ra DNA của con người được thiết kế vô cùng tinh vi và chính xác. Sau đó, trong công việc bác sĩ, ông phải tiếp xúc với vô số bệnh nhân đau đớn và hấp hối. Và chính nơi đó, ông học được rằng sức mạnh của đức tin nơi Đức Chúa Trời là điều vô cùng vĩ đại.

Khi chuyển sang y học và hiểu rõ hơn về sự sống, ông bắt đầu tin rằng:

“Đức Chúa Trời thực sự quan tâm và can thiệp vào cuộc sống con người, đôi khi qua những phép lạ.”

Collins đã kể lại câu chuyện đời mình trong quyển “The Language of God” (Ngôn ngữ của Đức Chúa Trời). Ông viết rằng:

Khi ông còn là bác sĩ, nhìn thấy những bệnh nhân đang hấp hối trong đau đớn mà vẫn tôn kính và tin cậy Đức Chúa Trời, lòng ông tràn ngập sự bối rối và cảm động.

Một lần, có một bà cụ đang chịu đau đớn tột cùng hỏi ông:

“Bác sĩ ơi, ông có tin Đức Chúa Trời không?”

Lúc đó, Collins một người bất khả tri đã không thể trả lời rõ ràng, chỉ ấp úng cho qua. Nhưng chính sự im lặng ấy khiến ông đau khổ, vì ông nhận ra mình không thể nói “Không, không có Đức Chúa Trời”.

Từ giây phút ấy, ông quyết định:

“Mình phải đối diện và tìm cho ra sự thật Đức Chúa Trời có thật hay không.”

Ban đầu, ông tưởng mình sẽ đi đến kết luận vô thần, nhưng Đức Chúa Trời lại dẫn ông đến một kết luận hoàn toàn khác.

7. Quyển “Mere Christianity” của C. S. Lewis

Nhà di truyền học hàng đầu, người từng ở đỉnh cao của khoa học, đã quyết định dốc toàn bộ tri thức của mình để tìm kiếm chân lý một cách thành thật, thoát khỏi trạng thái bất khả tri để trở thành người vô thần hoàn toàn vì ông nghĩ đó sẽ là kết luận hợp lý nhất.

Một ngày nọ, Francis Collins tìm đến một mục sư tại nhà thờ gần nơi ông ở. Vị mục sư ấy tặng ông một quyển sách: “Mere Christianity” (Tín lý đơn sơ của Cơ Đốc giáo) của C. S. Lewis, giáo sư Đại học Oxford.

Khi đọc quyển sách đó, Collins vô cùng kinh ngạc. Ông nhận ra rằng tất cả những lập luận mà ông từng dùng để biện minh cho chủ nghĩa vô thần đều đã được Lewis phản bác từng điểm một cách logic và sâu sắc.

Collins ngạc nhiên bởi chính Lewis, người viết quyển sách này, từng là một người vô thần,
nhưng sau khi suy gẫm, ông đã trở nên người tin Đức Chúa Trời.

Qua từng trang sách, Collins cảm thấy như tác giả đang đọc được suy nghĩ trong lòng mình,
và từng câu trả lời trong sách chính là lời giải đáp cho các thắc mắc sâu kín của ông.

8. “Luật đạo đức” – Bản chất chung của toàn nhân loại

Francis Collins chỉ ra rằng có một điều khiến loài người khác biệt hoàn toàn với muôn loài:
đó là ý thức đạo đức bẩm sinh (Moral Law).

Từ khi sinh ra, con người đã có khả năng phân biệt đúng sai, không như loài vật.
Đó là điều mà Collins gọi là “luật đạo đức” – một đặc tính phổ quát của nhân loại.

Con người, dù không nhận ra, vẫn luôn dựa vào luật đạo đức ấy để biện luận.
Ví dụ,
có người cho rằng “Hoa Kỳ dùng sức mạnh quân sự tấn công Bắc Hàn là cách mang lại hòa bình”, trong khi người khác lại nói “đàm phán hòa bình mới là con đường đúng đắn.”

Hai bên khác nhau về quan điểm, nhưng đều thừa nhận rằng “hòa bình tốt hơn chiến tranh.”
Đó chính là bản năng đạo đức phổ quát mà Collins nói đến.

Nhưng câu hỏi đặt ra: nguồn gốc của luật đạo đức này là từ đâu? Có phải, như khoa học nói, nó là kết quả của gen di truyền?

Không, vì động vật cũng có gen, nhưng không có ý thức đạo đức.

Và dù văn hóa hay thời đại có khác nhau, luật đạo đức này vẫn tồn tại phổ quát nơi loài người.

Một số người nói rằng đạo đức chỉ là tương đối, nhưng trong thực tế, có vô số trường hợp cho thấy con người vẫn hành động theo điều tuyệt đối, không vì lợi ích cá nhân.

9. Câu chuyện trong phim Schindler’s List

Bạn có nhớ bộ phim Schindler’s List (Danh sách của Schindler) không?

Nhân vật chính đã mạo hiểm cả mạng sống và tài sản để cứu người Do Thái khỏi thảm sát dưới thời Đức Quốc Xã. Ông không đòi hỏi phần thưởng hay lợi ích nào.

Những người cho rằng “đạo đức là tương đối” không thể nào giải thích được hành động đó.

Hãy nghĩ đến thập tự giá của Chúa Jesus. Ngài hoàn toàn có thể tránh con đường khổ nạn ấy, nhưng Ngài đã vâng phục theo lời tiên tri và đi đến cùng không vì phần thưởng hay vinh hiển trần thế.

Một số người ví tình yêu của người mẹ với tình yêu của Đức Chúa Trời, nhưng Collins chỉ ra rằng: tình yêu của người mẹ có thể được giải thích bằng bản năng di truyền bảo tồn nòi giống, còn tình yêu của Đức Chúa Trời là vô điều kiện, siêu nhiên, không thể đến từ sự tiến hóa.

Động vật có thể hi sinh vì bản năng sinh tồn, nhưng chỉ con người có khả năng yêu thương vô điều kiện ngay cả người xa lạ.

Collins, nhà di truyền học hàng đầu thế giới, kết luận rằng:

“Luật đạo đức và tình yêu của Chúa không thể được giải thích bằng di truyền học hay tiến hóa. Chúng chỉ có thể đến từ Đức Chúa Trời.”

10. Bản tính của Đức Chúa Trời – điều khoa học không thể giải thích

Con người mang trong mình tình yêu vị tha và lương tri đạo đức, những điều mà khoa học gien không thể mô tả hay tái tạo.

Nếu ai đó hi sinh vì gia đình, ta có thể nói đó là bản năng, nhưng khi một người sẵn sàng chết vì một người xa lạ, thì đó là hành động vượt ngoài gien di truyền chỉ có thể đến từ bản tính của Đức Chúa Trời trong con người.

11. Kinh thánh nói đến loại người nào?

Vậy Kinh Thánh nói gì về bản chất của con người?

2 Corinthians 4:6  Vì Đức Chúa Trời, là Đấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jesus Christ.

2 Corinthians 10:3-5 Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: Nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ.

Kinh Thánh nói rằng thân xác chúng ta thuộc về thế giới vật chất, được hình thành qua gen và xác thịt, nhưng linh hồn chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời.

Theo khoa học, con người và động vật có cùng cấp độ vật chất, nhưng nếu không thừa nhận yếu tố thuộc linh, thì con người chẳng khác gì loài thú.

Nếu vậy, tại sao ta lại kết án những kẻ giết người hàng loạt? Một con chó mẹ có thể giết con yếu để bảo vệ đàn đó là bản năng. Một con heo phá nát ruộng khoai nhưng chúng ta không gọi đó là “tội.”

Nhưng con người lại có ý thức tội lỗi và công lý, vì Đức Chúa Trời đã đặt trong chúng ta điều đó.

Collins nói rằng: “Loài vật và con người đều có gen, nhưng chỉ con người có năng lực đạo đức và tâm linh, đó là điều Đức Chúa Trời đã đặt vào linh hồn con người.”

Ảnh minh họa

12. Lời dạy của Chúa Jesus Christ

Bây giờ, hãy xem Chúa Jesus dạy gì về bản chất con người. Câu chuyện này là cuộc đối thoại giữa Ngài và Nicodemus, một học giả Do Thái.

John 3:1-16 Trong vòng người Pharisee, có người tên là Nicodemus, là một người trong những kẻ cai trị dân do thái. Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jesus mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được. Đức Chúa Jesus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. Nicodemus thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy. Nicodemus lại nói: Điều đó làm thể nào được? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân Israel, mà không hiểu biết những điều đó sao! Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta. Ví bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao được? Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Con người vốn ở trên trời. Xưa Moses treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời. Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.

Nicodemus không hiểu được bản chất thật của con người nên đã hỏi theo cách vật chất. Chúa Jesus cũng phán:

John 6:33-35 Vì bánh của Ðức Chúa Trời là những gì từ trời xuống để ban sự sống cho thế gian.” Bấy giờ họ nói với Ngài, “Lạy Chúa, xin ban cho chúng tôi bánh đó luôn luôn.” 35Ðức Chúa Jesus nói với họ, “Ta là bánh của sự sống. Ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, và ai tin Ta sẽ không bao giờ khát.

Và Ngài còn phán thêm:

John 6:51-58 Ta là bánh sống từ trời xuống; nếu ai ăn bánh nầy, người ấy sẽ sống đời đời, và bánh Ta sẽ cho để ban sự sống cho thế gian chính là thịt Ta.” Bấy giờ người Do Thái bàn cãi sôi nổi với nhau, “Làm sao người nầy lấy thịt mình cho chúng ta ăn?” Vì thế Ðức Chúa Jesus nói với họ, “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, nếu các ngươi chẳng ăn thịt Con Người và chẳng uống huyết Con Người, các ngươi sẽ chẳng có sự sống trong các ngươi. Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng, vì thịt Ta là thức ăn thật, và huyết Ta là thức uống thật. Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy. Như Cha hằng sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Cha thể nào, những người ăn Ta cũng sẽ sống nhờ Ta thể ấy. Ðây là bánh từ trời xuống, không như bánh manna mà tổ tiên các ngươi đã ăn và đã chết. Ai ăn bánh nầy sẽ sống đời đời.”

Luke 22:7-20 Bấy giờ ngày Lễ Bánh Không Men đã đến, ấy là ngày người ta phải giết con chiên làm vật hiến tế trong Lễ Vượt Qua, Ngài sai PeterJohn đi và dặn, “Hãy đi, chuẩn bị tiệc Lễ Vượt Qua cho chúng ta để chúng ta ăn.” Họ hỏi Ngài, “Thưa Thầy, Thầy muốn chúng con dọn tiệc ấy ở đâu?” Ngài đáp với họ, “Nầy, khi các ngươi vào thành, các ngươi sẽ gặp một người mang một vò nước, hãy đi theo người đó và vào nhà nào người đó vào. Các ngươi hãy hỏi chủ nhà ấy rằng, ‘Thầy chúng tôi xin hỏi ông: “Phòng khách, nơi Ta sẽ dự tiệc Lễ Vượt Qua với các môn đồ Ta ở đâu?’ Người ấy sẽ chỉ cho các ngươi một phòng lớn, trên lầu, có bàn ghế sẵn sàng; hãy chuẩn bị bữa tiệc tại đó.” Họ ra đi và gặp mọi sự y như Ngài đã bảo trước với họ; họ chuẩn bị bữa tiệc Lễ Vượt Qua tại đó. Khi đến giờ Ngài ngồi vào bàn ăn, các môn đồ cùng ngồi với Ngài. Ngài nói với họ, “Ta rất muốn ăn Lễ Vượt Qua nầy với các ngươi trước khi Ta chịu khổ hình, vì Ta nói với các ngươi, Ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi nó được làm trọn trong vương quốc Ðức Chúa Trời.” Ðoạn Ngài lấy chén, tạ ơn, rồi nói, “Hãy lấy chén nầy và chia cho nhau, vì Ta nói với các ngươi, từ nay Ta sẽ không uống nước nho nữa cho đến khi vương quốc Ðức Chúa Trời đến.” Kế đó Ngài lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, đưa cho họ, và nói, “Ðây là thân thể Ta vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ Ta.” Tương tự, sau khi ăn, Ngài lấy chén và bảo, “Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta, vì các ngươi đổ ra.

Ngoài “luật đạo đức”, Collins còn nói rằng ý thức về linh hồn và sự đời sau cũng là điều chỉ có trong con người.

Từ xưa, dù không ai dạy, con người vẫn cảm nhận về thế giới linh hồn, sợ ma, cúng tổ tiên, mơ về sự sống sau cái chết. Đó không phải là do tiến hóa mà là dấu ấn của Đức Chúa Trời trong linh hồn nhân loại.

Genesis 2:7 CHÚA Ðức Chúa Trời dùng bụi đất nắn nên con người, rồi hà sinh khí vào lỗ mũi, con người trở nên một sinh vật có linh hồn.

Kinh Thánh cho thấy rõ: linh hồn con người đến từ chính Đức Chúa Trời. Điều mà di truyền học không thể giải thích, Kinh Thánh lại trả lời một cách trọn vẹn.

13. Ý nghĩa của sự tồn tại trong chân lý

Giờ đây, cho phép tôi kết luận bài chia sẻ này.

Francis Collins hiện nay là Viện trưởng Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), và thường xuyên xuất hiện trên truyền thông, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch COVID-19. Ông là một nhà khoa học lỗi lạc, được cả nước Mỹ kính trọng và ngưỡng mộ.

Từ một người bất khả tri, ông đã trở nên người tin kính Đức Chúa Trời, một nhà khoa học hàng đầu tuyên xưng rằng “Đức Chúa Trời thật sự hiện hữu.”

Tuy nhiên, ông vẫn chưa biết đến Lễ Vượt Qua (Passover) theo giao ước mới, như lời dạy của sứ đồ Paul.

Dù quyển sách The Language of God của ông đã khiến nhiều người tin vào Đức Chúa Trời, nhưng ông vẫn chưa hiểu hết về Giao Ước Mới qua huyết của Chiên Con.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta là ai, mà được biết, giữ và thờ phượng Đức Chúa Jesus Christ trong Lễ Vượt Qua? Chúng ta có công lao hay tư cách gì lớn hơn tiến sĩ Collins không?

Không. Tất cả những gì chúng ta đang có chính là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho.

Ngài đã chọn chúng ta để giữ Giao Ước Mới, để hiểu được điều mà bao người thông minh vẫn chưa hiểu.

Vì vậy, hãy biết ơn. Hãy vui mừng. Những nỗ lực của anh/chị trong việc giữ ngày Sabbath, dâng hiến, và hầu việc Chúa không hề vô ích.

Hãy cân nhắc kỹ giá trị của đời sống đức tin mà anh/chị đang có đó là điều quý giá hơn bất kỳ tri thức nào trên đời.

Nguyện anh/chị có một tuần lễ phước hạnh, và xin kết thúc bài giảng buổi sáng ngày Sabbath tại đây.

Xin cảm ơn.

[Source] 하나님의 교회를 떠난 분들에게|작성자 하나님의교회


Đăng nhận xét (0)
Mới hơn Cũ hơn